di tích lịch sử đền ghềnh

Đền Ghềnh có tên chữ là "Thiên quang linh từ", gần cầu Chương Dương, thuộc địa phận tổ 2, phường Bồ Đề. Gọi là đền Ghềnh vì trước cửa đền có một ghềnh nước lớn. Theo năm tháng, dòng chảy biến động, con ghềnh mất đi và chỉ còn lại dấu tích nơi tên đền.

Đền thờ công chúa Lê Ngọc Hân, vợ của vua Quang Trung, nổi tiếng về tài, đức và sự trinh liệt. Cho đến nay, trong dân gian vẫn lưu truyền sự tích đền Ghềnh gắn với số phận bi thương của công chúa Ngọc Hân, người được cả kinh thành Thăng Long gọi là "Chúa tiên" bởi dung nhan xinh đẹp, cầm kỳ thi họa đủ tài xuất chúng. Năm 16 tuổi (1786), nàng được gả cho thủ lĩnh Tây Sơn tức Quang Trung Nguyễn Huệ. Cuộc tình giữa Ngọc Hân và Nguyễn Huệ chỉ kéo dài 6 năm, sự ra đi đột ngột của vị hoàng đế tài ba đã khiến người đẹp thành Thăng Long đổ máu khóc chồng mà viết nên tác phẩm "Ai tư vãn" bất hủ. Bảy năm sau, ở tuổi 29, nàng lặng lẽ đi theo Quang Trung vào cõi vĩnh hằng. Nhà Nguyễn lên ngôi đã tìm cách tận diệt những người có liên quan đến triều đại Tây Sơn. Bà Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, xót phận con gái Ngọc Hân sau khi mất, vẫn phải gửi thân xác ở Phú Xuân - Huế nên đã tìm cách "bí mật" đưa được hài cốt Bắc cung Hoàng hậu nhà Tây Sơn về an táng tại quê nhà (làng Nành, Gia Lâm). Không ngờ đến đời vua Minh Mạng có người đã đem việc "ngụy hậu" Tây Sơn vẫn đang được "mồ yên mả đẹp" ở quê mẹ, thoát việc "trả thù 9 đời" do vua Gia Long khởi xướng và thực thi. Triều đình Huế ra lệnh lập tức đào mộ Ngọc Hân lên, san đất thành bình địa cho cỏ gai mọc đầy, còn xương cốt thì đem vứt xuống sông. Hài cốt Ngọc Hân bị đổ xuống sông Hồng thuộc địa phận làng Ái Mộ. Thương xót Bắc cung Hoàng hậu tài hoa bạc mệnh, nhân dân Ái Mộ lập miếu thờ bà chính nơi bờ sông vớt được hài cốt. Dòng sông bên lở, bên bồi; ít lâu sau, ngôi miếu nhỏ cũng bị lũ cuốn trôi. Cho đến năm 1858, cụ Ðặng Thị Bản đã công đức để tôn tạo đền chùa ở Ái Mộ, Lâm Du, Phú Viên. Năm 1872, đền lại bị giặc Pháp đốt sạch trong cơn binh lửa đánh Thành Hà Nội. Dốc lòng với việc tín nghĩa, cụ lại đi quyên góp xây lại đền. Trải bao phen binh lửa, can qua, đền Ghềnh vẫn được con cháu cụ Ðặng Thị Bản trông nom và dân làng gìn giữ đến ngày nay.

Đền hiện có các hạng mục chính như: điện mẫu, điện sơn trang, nhà tổ, nhà khách và khu vực phụ trợ. Trong Đền còn lưu giữ được nhiều di vật quý: quả chuông được đúc vào thời Tự Đức, hai cỗ kiệu được trang trí bằng nghệ thuật chạm trổ, các bức đại tự, cuốn thư, hoành phi và câu đối. Cùng với các di vật quý, di tích Đền Ghềnh ngày nay đã trở thành một công trình kiến trúc cổ kính, được đông đảo du khách cả nước biết đến.

Bên cạnh những giá trị vật thể, tại di tích này, hàng năm đều diễn ra Lễ hội Đền Ghềnh nổi tếng khắp cả nước với nhiều hoạt động mang đặc trưng của vùng đồng bằng sông Hồng. Lễ hội thể hiện ước nguyện của người dân về mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc; đồng thời tưởng nhớ đến nỗi đau của Hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Lễ hội Đền Ghềnh lần đầu tiên được tổ chức vào đời Thành Thái, khoảng năm 1889; bắt đầu từ ngày 1 tháng 8 và kết thúc vào ngày 12 tháng 8 âm lịch hàng năm. Các phần chính trong Lễ hội Đền Ghềnh là: sáng mồng 3-8, làm lễ rước nước sông Hồng về đền; sáng mồng 6-8, vào chính hội, hội làng tươi vui trong đám rước kiệu bát cống của trai tân và kiệu võng của các cô gái đồng trinh; mồng 7-8, đặc sắc nhất là 5 người đóng 5 ông quan Ðệ Nhất, Ðệ Nhị, Ðệ Tam, Ðệ Tứ, Ðệ Ngũ ngồi trước cửa Ðền hay còn gọi là Lễ Kiều Năm quan. Buổi tối có hát văn ca ngợi Thánh Mẫu, trong đó có lồng lời ca, ca ngợi vua Quang Trung, anh hùng áo vải và nỗi lòng bi thương của công chúa Ngọc Hân dựa vào bài thơ "Ai tư vãn" nổi tiếng. Sau lễ tạ là các cuộc thi bơi trải vượt sông Hồng. Các lễ vật được lựa chọn để dâng trong lễ hội là bánh đa và khế ngọt. Năm 2013, thiết thực chào mừng kỷ niệm 10 năm quận Long Biên, lễ hội Đền Ghềnh đã được tổ chức với quy mô lớn, phục dựng lại hầu hết các nghi lễ của Lễ hội Đền Ghềnh truyền thống xưa, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng du khách thập phương.

di tích lịch sử và lễ hội truyền thống